CHI TIẾT TIN TỨC

Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà ri và gà ri pha


 

I. Kỹ thuật nuôi gà ri và gà ri pha giống sinh sản

Mục tiêu của chăn nuôi gà giống sinh sản là có nhiều trứng giống để ấp. Do vậy, cần.thực hiện đầy đủ quy trình nuôi gà giống sinh sản nhằm đạt tối đa số gà con loại I ấp nở ra trên một gà mái đẻ. Thông thường thời gian khai thác gà mái đẻ là 9- 12 tháng, chống đối với gà Ri và Ri pha có thể sử dụng gà mái đẻ kéo dài 2-3 năm khi chăn thả tự nhiên và sản lượng trứng đẻ hàng năm còn thấp so với sinh lý sinh sản.

Nuôi gà Ri, Ri pha giống sinh sản dù quy mô ít hay nhiều đều cần thiết phải có sự đầu tư về chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, thú y, chuẩn bị nguồn thức ăn và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tốt mới có tỷ lệ đẻ cao, chất lượng trứng giống tốt và có tỷ lệ ấp nở cao.

Một biện pháp hết sức quan trọng cho việc đảm bảo đàn gà có tỷ lệ nuôi sống và năng suất đẻ cao là công tác vệ sinh thú y phòng bệnh phải được làm tốt thường xuyên. Mỗi khi gà chớm bệnh nào đó là phải có biện pháp phòng trị triệt để. Tuỳ theo tình hình dịch tễ ở mỗi vùng mà tiêm phòng đủ, kịp thời các loại vacxin phòng bệnh. Đặc biệt, đối với đàn gà sinh sản cần được tiêm phòng vacxin Marex ngay sau khi gà mới nở.

 

1. Chăm sóc nuôi dưỡng gà con 0-7 tuần tuổi:

Nếu số lượng gà nhiều (từ 100 con trở lên) thì nên úm gà trong quây, nền chuồng rải dăm bào dày, bên. trong quây có đặt sãn máng ăn, máng uống và đặc biệt là có bộ phận sưởi ấm bằng bóng đèn điện tròn, hoặc bếp than, bếp dầu như phần trên đã nêu.

Chế độ sưởi ấm khi úm các loại gà con: Do khả năng điều tiết thân nhiệt của gà con rất kém, cho

nên trong những tuần đầu tiên gà cần được sưởi ấm nhân tạo. Làm chụp sưởi ấm cần căn cứ yêu cầu nhiệt cho gà ở các lứa tuổi để điều chỉnh cho vừa.

Bảng: yêu cầu nhiệt cho gà ở các lứa tuổi:

Ngày tuổi

Nhiệt độ nơi có sưởi

Nhiệt độ trong ô chuồng

1-7

35-32

26-24

8-14

32-29

24-22

15-21

28-25

21-20

sau 22

24-20

20-18

 Quan sát đàn gà con để tăng giảm độ sưởi:

a. Thiếu nhiệt (còn lạnh): Gà tập trung chụm lại sát chụp sưởi lò than, bếp củi, liên tục kêu chiêm chiếp.

b. Thừa nhiệt (nóng quá): Gà tản ra rìa quây, góc ô chuồng, xã cánh, há miệng thở, uống nước nhiều.

c Vừa nhiệt: Gà tản đều trên nền chuồng, nhanh nhẹn, chạy nhảy.

Vị trí úm gà không những phải tránh được gió lùa, ấm áp mà còn phải bảo đảm thoáng khí, bởi vì yêu cầu về dưỡng khí của gia cầm gấp hai lần so với động vật có vú. Trước khi thả gà vào chuồng cần bố trí máng ăn, máng uống sãn xen kẽ nhau. Cho gà uống nước có pha đường gluco và vitamin theo tỷ lệ 50 gam đường + 1 gam vitamin C  hoà trong 1 lít nước. Chú ý cho gà uống trước lúc cho ăn. Nếu thời tiết lạnh thì nước cần được đun ấm.

Thức ăn cho gà: Gà được ăn tự do từ lúc nở đến 4 tuần tuổi với tiêu chuẩn dinh dưỡng cần đạt 16- 17% protein và năng lượng trao đổi 2850-2900 Kcal/kg thức ăn.

Bảng: tiêu chuẩn dinh dưỡng cho gà ri, ri pha và gà nội khác:

Chỉ tiêu dinh dưỡng

Tuổi gà (ngày

1-30

21-49

Năng lượng trao đổi (Kcal/kg)

2800-2900

2700-2800

Protein thô (%)

16-17

15-16

Xơ thô (%)

3,5-4,0

4.0-4.5

Canxi (%)

1,0-1,1

0.90-1.00

Photpho (%)

0,70-0,80

0.70-0.80

 Để đạt được tiêu chuẩn dinh dưỡng trên có thể phối hợp các loại nguyên liệu thức ăn sãn có tại địa phương theo tỷ lệ sau đây:

Bảng: tỷ lệ phói hợp thức ăn có sãn tại địa phương

Nguyên liệu thức ăn

Tuổi gà (ngày)

 

1-30

31-49

Bột ngô

33

34

tấm gạo

38

37

Cám gạo loại 1

-

5

Bột cá nhạt

5

3

Khô đậu tương

21

18

Bột xương, bột sò

2

2

Premix - vitamin

1

1

 

Năng lượng trao đổi (Kcal/kgTĂ)

2860

2790

 

Protein thô

16,63

15,54

 Hàng ngày cho gà ăn 6-8 lần, lượng thức ăn cho vừa đủ để tránh thức ăn tồn lưu trong máng. Cùng với việc bổ sung thức ăn mới, cần thay nước uống mới, mỗi lần lần thay nước uống phải cọ rửa, vệ sinh máng uống sạch sẽ. Sau 2 tuần, tiến hành thay thế dần máng ăn hình vuông (hoặc mẹt) bằng máng ăn hình trụ, đồng thời thay dần máng uống hình trụ (hoặc chai) bằng máng uống dài.

Khi đàn gà được nuoi trên nền có đệm lót, thì cần chú ý thay mới dăm bào hoặc vỏ trấu khi bị ẩm ướt. Thực hiện đầy đủ lịch dùng vacxin phòng bệnh.

Cắt mỏ: Để tránh hiện tượng đàn gà mổ cắn nhau ở gia đoạn sau này, sau 3 tuần tuổi có thể cắt mỏ. Cắt 1/3 chiều dài của mỏ trên tính từ lỗ mũi đến đầu mỏ bằng dao nung nóng. Trong khi cắt mỏ phải đề phòng gà chạm lưỡi vào dao gây bỏng. Sau khi cắt xong dùng dao nóng là vào vết cắt để hàn tránh chảy máu và thả gà cho ăn thức ăn bột ngay sẽ dính mỏ cắt làm giảm chảy máu. Trước và sau khi cắt mỏ 2-3 ngày có thể cho gà uống vitamin C và K.

 

2. Chăm sóc nuôi dưỡng gà hậu bị (8-19 tuần tuổi):

Giai đoạn này cần nuôi trống, mái tách riêng. Đây là giai đoạn tuổi hết sức quan trọng vì ảnh hưởng lớn đến năng suất trứng sau này. Nếu đàn gà được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, đồng đều về khối lượng thì sẽ có đến gà đẻ năng suất cao, trứng giống tốt, tỷ lệ ấp nở cao.

- Mật độ nuôi nền : 8- 10 con/m2.

- Máng ăn trụ: 20-25 con/máng.

- Máng ăn dài 1 ,5m: 2:3 cm/con.

Chế độ ăn hạn chế để khống chế khối lượng cơ thể:

Trong giai đoạn này cả gà trống và gà mái đều được ăn hạn chế nhằm tránh tích luỹ mỡ sớm ảnh hưởng xấu đến sức đẻ trứng sau này. Có thể áp dụng một trong 2 phương thức sau đây:

- Cho ăn hàng ngày: Lượng thức ăn hàng ngày cho đàn gà giảm xuống còn 2/3 so với nhu cầu. Yêu cầu số lượng máng ăn phải đầy đủ và rải thức ăn nhanh và đều cho các máng, tránh hiện tượng đàn gà xô đẩy lẫn nhau. Mỗi ngày cho gà ăn 2 lần. Phương thức cho ăn: 2 ngày ăn 1 ngày nghỉ:

Lượng thức ăn của ngày nhịn được chia đều cho 2 ngày. Trong ngày nhịn đùng ít thóc, ngô hạt rải đều trên nền chuồng cho gà nhặt ăn.

Để có được đàn gà tương đối đồng đều về khối lượng cơ thể (là yêu cầu hết sức quan trọng đối với gà hậu bị) hàng tuần cân ngẫu nhiên 10% số lượng gà có mặt, so sánh khối lượng trung bình thu được với khối lượng chuẩn của gà ở tuần tuổi tương ứng. Nếu khối lượng trung bình = khối lượng chuẩn ? 10% thì tăng lượng thức ăn bình thường như bảng hướng dẫn.

Nếu khối lượng trung bình lớn hơn khối lượng chuẩn trên 10% thì tuần tiếp theo không được tăng thức ăn mà vẫn giữ nguyên mức thức ăn như tuần đó. Ngược lại, nếu khối lượng trung bình của đàn gà bé hơn khối lượng chuẩn trên 10% thì tuần tiếp theo tằng lượng thức ăn lên 2-3 gam/con/ ngày. Cách tốt nhất là tách riêng những cá thể quá bé nuôi vào một ô chuồng và bổ sung thức ăn so với tiêu chuẩn.

Trong giai đoạn gà hậu bị, nếu thời tiết ấm áp có thể thả đàn gà ra vườn. Tiêu chuẩn ăn cho gà Ri, Ri pha trong giai đoạn hậu bị cần đạt được các chỉ số sau đây:

Năng lượng trao đổi: 2700-2800 Kcal

Protein thô: 14.5-15%

Xơ thô: 3-4%

Để đạt được các giá trị dinh dưỡng nêu trên có thể trộn các nguyên liệu thức ăn theo tỷ lệ sau đây:

Bảng: Tiêu chuẩn dinh dưỡng và tỷ lệ phối trộ nguyên liệu thức ăn cho gà ri, ri pha hậu bị

Nguyên liệu thức ăn

Khẩu phần cơ sở là ngô (%)

Khẩu phần cơ sở là thóc (%)

Khẩu phần cơ sở là bột khoai (%)

Ngô vàng

40,5

-

-

Thóc tốt

-

29,5

-

Bột khoai

-

-

30,5

Tấm

15

25

28

Cám loại 1

20

20

15

Khô dầu đỗ tương

14

14

15

Bột cá

4

3

5

Bột sò

5

5

5

Premix vitamin

1

1

1

Muối ăn

0,5

0,5

0,5

Chế độ dinh dưỡng đã đạt được

Năng lượng (Kcal/kgTĂ)

2750

2500

2600

Protein thô (%)

15,7

15,5

15,4

Nếu dùng thức ăn hỗn hợp do các hãng sản xuất nh CP313, Proconco v.v.. thì có thể trộn thêm ngô xay, thóc theo tỷ lệ sau đây:

- Cám hỗn hợp CP 313 : 80%

- Ngô xay: 10%

- Thóc hạt: 10%

* Chế độ chiếu sáng:

Trong giai đoạn hậu bị, bà con có thể thực hiện chiếu sáng như sau đối với đàn gà:

1 tuần tuổi: 22 giờ/ngày đêm (sưởi úm bằng bóng điện là đủ ánh sáng, không dùng bóng công suất lớn có hại). 2 tuần tuổi : 14 giờ/ngày đêm; 3-20 tuần tuổi: Sử dụng ánh sáng tự nhiên. Ngày trời mưa gió tối trời cần có đèn chiếu sáng.

Cường độ chiếu sáng: 3w/m2 nền chuồng, thời kỳ gà con đều gà dò 2,4-4 W/m2 nền chuồng. Chú ý bóng đèn điện treo sao cho ánh sáng phân bố đều trong nền chuồng (tốt nhất là dùng bóng điện sợi đốt có công suất 75-100W).

Kết thúc 19 tuần tuổi cần tiến hành chọn lọc cả gà trống và gà mái trước lúc ghép đàn. Cần loại bỏ những cá thể không đạt tiêu chuẩn giống (như đã giới thiệu ở phần kỹ thuật chọn giống).

 

3. Chăm sóc nuôi dưỡng giai đoạn gà đẻ:

Sau khi chọn lọc, những cá thể đạt tiêu chuẩn làm giống được ghép trống mái theo tỷ lệ 1 trống/8- 10 mái. Mật độ nuôi nền: 3-5 con/m2 nền chuồng. Máng ăn hình trụ: 20-25 máng. Máng uống dài 1,5m: 50 con/máng. ổ đẻ 4-5 con/ngăn ổ,

* Chế độ dinh dưỡng và khẩu phần ăn:

Tỷ lệ đẻ và khối lượng cơ thể bình quân hàng tuần là những yếu tố cơ bản để quyết định lượng thức ăn hàng ngày. Tuy nhiên, về nguyên tắc không được giảm lượng thức ăn trước lúc đàn gà đẻ đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao. Yêu cầu chế độ dinh dưỡng đối với gà Ri, Ri pha trong giai đoạn này như sau: Năng lượng trao đổi: 2750-2800 Kcal/kg Tă. Protein thô : 16,5 - 17% .

Gà mái được ăn tăng dần theo tỷ lệ đẻ. Sau khi đạt đỉnh cao tỷ lệ đẻ thì giảm dần lượng TĂ (có thể giảm 0,5-1 gam thức ăn/con/ngày mỗi tuần, đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến khối lượng trứng và khối lượng cơ thể để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý).

Sử dụng cùng loại thức ăn cho cả gà trống và gà mái, nhưng gà trống được cho ăn theo định lượng riêng, thông quan máng ăn của gà trống được treo cao và máng ăn gà mái có chụp như phần trên đã ghi.

Định kỳ cho gà uống vitamin ADE 2 lần/tuần theo hướng dẫn của hãng sản xuất hoặc cho gà ăn thóc mầm, nên cho ăn theo định mức 10-15 g/con/ngày. Khi đàn gà bắt đầu vào đẻ cần tập cho gà vào đẻ trong ổ, những quả trứng đẻ ngoài ổ phải kịp thời nhặt ngay. Mỗi ngày nhặt trứng ít nhất 4 lần. ổ đẻ phải lót trấu hoặc dăm bào để bảo đảm luôn sạch sẽ. Trứng được bảo quản nơi thoáng mát. Hàng tháng định kỳ loại thải những gà mái không đẻ hoặc đẻ kém.

Nuôi gà Ri, Ri pha ở hộ gia đình dù là gà giống sinh sản hay gà thịt theo phương thức chăn thả tự nhiên, gà tự tìm kiếm mồi, thức ăn ở vườn đồi đồng thời phải cho ăn thêm. Thức ăn cho ăn thêm có thể là thóc, tấm, cám, bột khoai củ, sắn khô, khô lạc (không mốc); khô đỗ tương, rau xanh, bột khoáng v.v... tuyệt đối không cho loại thức ăn mốc, nhất là các loại khô dầu lạc vừng đã bị mốc, dù chớm mốc cũng không cho ăn.

Bảng: Hỗn hợp thức ăn cho gà ri, ri pha, gà nội khác (Hội chăn nuôi Việt Nam)

Nguyên liệu thức ăn

Khẩu phần cơ sở là ngô

Khẩu phần cơ sở là thóc

Khẩu phần cơ sở là bột khoai

Ngô

40,5

-

-

Thóc

-

29,5

-

Bột củ

-

-

27,5

Tấm

10

25

25

Cám loại 1

20

15

15

Khô lạc

7

16

15

Khô đỗ tương

7

-

-

Bột cá (50% protein)

4

3

6

Rau xanh, bèo

5

5

5

Bột sò

5

5

5

Premix vitamin

1

1

1

Muối

0,5

0,5

0,5

Giá trị dinh dưỡng

Năng lượng (Kcal/kg TĂ)

2725

2512

2577

Protein (%)

15,73

15,49

15,34

 Bảng: Hỗn hợp thức ăn gà của các nông hộ ở miền nam

Nguyên liệu thức ăn (%)

Tuần tuổi

1-8

9-20

Gà đẻ

Ngô vàng

50

50

45

Cám

12

22

15

Bột cá nhạt

15

10

13

Khô lạc + đỗ tương

20

16

20

Preomix khoáng - vitamin

0,05-0,1

0.05-0.1

0.05-0.1

Bột đá sò

1,5

1.5

5.5

Bột xương

1,0

1.0

1.0

L-Lyzin + DI-methionin

0,4

0.4

0.4

Giá trị dinh dưỡng

 

 

 

Năng lượng trao đổi (Kcal/kg TĂ)

2850

2750

2900-2950

Protein thô (%)

20-21

16

18-20

Chế độ chiếu sáng: 21 tuần tuổi 13 giờ/ngày; 22-25 tuần tuổi mỗi tuần tăng 1 giờ chiếu sáng/ngày; 26 tuần tuổi đến cuối đời: giữ nguyên thời gian sáng 17 giờ/ngày.

Hàng ngày vào lúc thời tiết đẹp, sau khi đã ráo sương có thể thả gà ra vườn. Hàng tuần định kỳ phun sát trùng 1 lần toàn bộ khu vực trong và ngoài chuồng nuôi, kể cả vườn thả gà bằng foocmon 2%.

* Các phương pháp cai ấp:

- ở các giống gà nội nói chung và gà Ri nói riêng vẫn tồn tại tập tính cố hữu là ấp bóng. Cứ sau 1 đợt đẻ 12- 13 quả trứng/mái là gà Ri ngừng đẻ và ấp bóng. Trong thời gian ấp bóng gà ăn ít, ít

vận động, tính tình hung dữ. Do ăn uống ít nên gà gầy, lông xơ xác. Để giảm thời gian ấp bóng có thể áp dụng một số biện pháp sau đây: Nhốt riêng gà mái nơi sáng cho nhịn ăn hoặc ăn hạn chế 1-2 ngày, hàng ngày bắt gà ra nhúng chân vào nước lạnh 2-3 lần; nhốt chung gà mái với gà trống theo tỷ lệ 1/12.

Hàng tháng định kỳ kiểm tra đàn gà đẻ để kịp thời loại thải những cá thể đẻ kém hoặc không đẻ bằng cách kiểm tra lỗ huyệt. Thường thường những gà mái có mào kém phát triển, lỗ huyệt bé, khô, ít cử động, khoang bụng hẹp là đẻ kém, những cá thể say ấp, thay lông sớm cũng đẻ kém.

Sau năm đẻ trứng thứ nhất (thường sau 9- 12 tháng đẻ) tiến hành dập đẻ bằng cách giảm thức ăn hàng ngày, chỉ cho ăn ngô hoặc thóc với số lượng 20-30 g/con/ngày để kết thúc nhanh thời kỳ thay lông. Sau đó chọn những cá thể đẻ tốt giữ lại làm giống cho năm đẻ thứ hai. Sau khi đàn gà kết thúc thay lông, tăng cường thức ăn có chất lượng tốt hơn và tăng cả số lượng thức ăn hàng ngày để kích thích đàn gà sớm đẻ lại.

Bảng: Khối lượng cơ thể và lượng thức ăn hàng ngày đối với gà mái ri

Tuần tuổi

Khối lượng cơ thể (g)

Thức ăn (g/con/ngày)

Ghi chú

0-6

-

ăn tự do

 

7

450

48

 

8

520

51

 

9

660

53

 

10

690

55

 

11

770

55

Protein thô: 14,5-15%

12

790

58

NLTĐ: 2600-2700

13

830

58

Kcal/kg TĂ

14

940

61

 

15

1050

61

 

16

1100

64

 

17

1160

67

 

18

1200

70

 

19

1250

73

 

20

1300

76

 

21

1320

78

 

22

1350

80

 

Tỷ lệ đẻ 1-5%

1360

83

Protein thô: 15,5-16%

5-10%

-

86

NLTĐ: 2750-2800

10-20%

-

89

Kcal/kg TĂ

20-30%

-

92

 

30-40%

-

95

 

40-50%

-

97

 

50-60%

1450

100

 

> 60%

1470

102

 

Bảng: Khối lượng cơ thể và khối lượng thức ăn hàng ngày đối với gà trống ri

Tuần tuổi

Khối lượng cơ thể (g)

Thức ăn (g/gà/ngày)

0-6

530

ăn tự do

7

580

54

8

660

57

9

780

60

10

950

65

11

1040

70

12

1120

73

13

1120

76

14

1130

80

15

1380

84

16

1450

88

17

1520

92

18

1600

95

19

1660

100

20

1680

105

21-60

1700-1850

110

 

 II. Kỹ thuật chăn nuôi gà ri và gà ri pha lấy thịt

 

1. Chăm sóc nuôi dưỡng gà con từ 0-4 tuần tuổi

Trong giai đoạn này tốt nhất là úm gà trong chuồng có sưởi ấm với chế độ nhiệt tương tự thời kỳ gà con trong phần nuôi gà giống sinh sản. Thức ăn trong giai đoạn này yêu cầu về giá trị dinh dưỡng như sau: Protein thô: 18- 19 % ; Năng lượng trao đổi: 2850-2900 Kcal/kg Tă. Gà được ăn tự do suốt ngày đêm. Cách chăm sóc tương tự  đối với gà giống.

 

2. Chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt từ 5-13 tuần tuổi :

Sau 4 tuần tuổi có thể thả gà ra vườn (trừ những ngày quá rét hoặc mưa). Những tuần đầu mỗi ngày thả gà ra vườn 4-5 giờ. Sau đó có thể thả gà cả ngày. Ngoài vườn đặt các máng ăn, máng uống dưới gốc cây chỗ râm mát. Thức ăn trong giai đoạn này cần đạt chế độ dinh dưỡng như sau:

Protein : 16 - 17 % ; Năng lượng trao đổi: 2900-2950 Kcal/kg thức ăn.

Để đạt được tỷ lệ dinh dưỡng nêu trên, có thể dùng thức ăn hỗn hợp CP 311, hoặc Proconco trộn thêm 20-30% thóc và bột ngô, hoặc tham khảo cách pha trộn thức ăn như sau:  Thóc : 34%; Ngô xay: 40%; Bột cá nhạt: 25%;  Premix vitamin: 1%.

Hỗn hợp thức ăn nuôi gà thịt 61 - 150 ngày tuổi giống gà Ri, Ri pha và gà nội khác: Ngô: 42,5% Rau xanh: 4%;  Tấm: 20%;  Khoáng: 2%; Cám: 5%; Premix vitamin: 1%; Khô lạc: 18%; Muối: 0,5%; Bột cá: 7%

Đàn gà nuôi lấy thịt theo ph rông thức nuôi nhốt hoàn toàn cần có chế độ ánh sáng thích hợp tốt nhất là đèn mờ 15W/20m2 chuồng để giảm hoạt động của gà cho chóng lớn, mập:

Tuy là thời gian nuôi ngắn hơn gà đẻ nhưng về vệ sinh phòng bệnh cho đàn gà thịt đều phải thực hiện đầy đủ: Tiêm phòng các loại vacxin, sử dụng kháng sinh liều phòng trị các bệnh đường ruột. Định kỳ sát trùng chuồng trại, sân vườn, dụng cụ chăn nuôi, chăm sóc nuôi đường tốt, nhốt thả

tuỳ theo thời tiết tốt xấu để tránh những thiệt hại do thời tiết xấu nhất là giá rét gây ra.

Để chăn nuôi gà Ri lấy thịt đạt hiệu quả kinh tế, thu được lợi nhuận, nhất là khi nuôi với quy mô từ 30-50 con trở lên, không nên thả rông gà một cách tự nhiên, lẫn lộn với đàn gà của gia đình hàng xóm. Cách nuôi đó sẽ rất khó quản lý đàn gà, hao hụt lớn, hơn thế nữa gà dễ bị nhiễm bệnh.

Trong điều kiện gia đình chăn nuôi không có vườn rộng để thả gà (vườn được rào dậu xung quanh) thì tốt hơn hết là áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn và hàng ngày cung cấp thức ăn đủ lượng và chất như khuyến cáo ở phần trên.

Ngoài ra, tại các vùng ven sông, ven bãi, ven cánh đồng sau mỗi vụ thu hoạch lúa và hoa màu, người chăn nuôi có thể hàng ngày chở gà đến thả tại đó và tối chở gà về chuồng. Với cách nuôi này có thể tiết kiệm được 40-50% lượng thức ăn cần cung cấp cho gà. Cần lưu ý trước lúc thả gà vào bãi cỏ, đồng ruộng nên dùng lưới đánh cá hoặc phên nứu, tre che chắn xung quanh và sau 1 ngày lại luân chuyển sang vùng khác.

Mọi chi tiết xin liên hệ :

Công Ty TNHH TÂN TIẾN PHÁT

ĐC: 245/2 Trường Chinh - Q. Thanh Khê - TP. Đà Nẵng

ĐT: 05113.502.002 - DĐ: 0905.006.996

Email: synguyentrong@yahoo.com.vn

 

 “HẠNH PHÚC CỦA NHÀ CHĂN NUÔI LÀ  NIỀM VUI CỦA CHÚNG TÔI”

 

 


[Quay lại]
  Các tin đã đăng
Bán thức ăn cho thỏ tại Quảng Nam & Đà Nẵng
Kỹ thuật nuôi gà D300 trứng trắng thương phẩm
Phòng khám chữa bệnh cho chó mèo cảnh
Kỹ thuật nuôi chim chào mào
NPP: Dúi - Chim Trĩ - Gà Rừng